9 phút đọc

20 tuổi gọi là gì

+thiểu ngả giả: [少艾者]---->[là chỉ những thiếu nữ xinh đẹp ý tứ] +Bất mãn chu tuế: [不满周岁], chưa đầy một tuổi ----->[chỉ mấy bé còn trong tả lót ấy :3 ] +hài đề: [孩提], 2~3 tuổi
20 tuổi gọi là gì

+thiểu ngả giả: [少艾者]---->[là chỉ những thiếu nữ xinh đẹp ý tứ]

+Bất mãn chu tuế: [不满周岁], chưa đầy một tuổi ----->[chỉ mấy bé còn trong tả lót ấy :3 ]

+hài đề: [孩提], 2~3 tuổi

+thiều niên: [髫年], 7 tuổi ---->[ cách gọi tuổi của những bé gái :3 ]

+điều niên: [龆年], 8 tuổi ----> [cách gọi tuổi của những bé trai :3 ]

+tổng giác: [总角], khoảng 8~ 9 tuổi----->[cách xưng hô chung chung của mấy bé 8~9 tuổi :3 ]

+kim sai chi niên: [金钗之年], 12 tuổi ---->[Tại cổ đại, nữ hài tử đến mười hai tuổi thời kì là muốn mang "kim sai" hay còn gọi là "trâm cài tóc", cho nên sau này "kim sai" liền thành nữ hài tuổi tác đại xưng]

+đậu khấu niên hoa: [豆蔻年华], 13~ 14 tuổi ----->[Đậu khấu là loại cây lâu năm thực vật thân thảo,được so sanh như xử nữ, nên "đậu khấu niên hoa" ý tứ chỉ nữ tử mười ba mười bốn tuổi lúc]

+vũ chước chi niên: [舞勺之年], 13~14 tuổi ----->[Vũ chước chỉ chưa thành niên người học tập chước vũ, và cách gọi này thường dùng cho các nam hài tử thời cổ đại]

+vũ tương chi niên: [舞象之年], 15~20 tuổi ---->[vũ tượng chi năm là cổ đại nam tử 15 tuổi -20 tuổi thời kì xưng hô, là thành niên đại danh từ]

+Cập kê: [及笄], 15 tuổi----->[là chỉ cổ đại nữ tử đủ 15 tuổi có thể kết tóc(lấy chồng), dùng kê quán chi, nhân xưng nữ tử mãn 15 tuổi vì cập kê . Cũng chỉ đã đến kết hôn tuổi, như "Năm đã gần kê"]

+Nhị bát niên hoa: [二八年华], 16 tuổi----->[ Cách nói văn vẻ của thi nhân cổ đại, ý chỉ người tối mỹ hảo thanh xuân thời đại (2x8=16 ý tứ). Ngoài ra còn có 2 cách gọi khác như "phá qua niên hoa (破瓜年华)" là thời xưa các vị cổ nhân tách chữ "Qua (瓜)" ra thành " hai tám(二,八)", mà hai tám thì thành mười sáu, cho nên lúc đó cổ nhân cho "Phá Qua" đại biểu cho nữ tử tuổi tác, và"bích ngọc niên hoa (碧玉年华)" là Hình dung tiểu gia khuê nữ như hoa sen mới nở loại hàm súc mà không mất trang nhã, vì vậy cổ nhân xưng nữ tử 16 tuổi là ngọc bích niên hoa ]

+đào lý niên hoa: [桃李年华], 20 tuổi ----> [Cổ nhân chỉ nữ tử hai mươi tuổi cách gọi. Chỉ có như vậy niên hoa, chưa thi phấn trang điểm, tuổi trẻ mạo mỹ, tự có một phần đào lý chi diễm lệ xinh đẹp]

+hoa tín niên hoa: [花信年华], 24 tuổi -----> [Là thời kỳ hoa nở. Chỉ nữ tử tuổi đến hai mươi bốn. Cũng biểu thị nữ tử chính tại tuổi trẻ bề ngoài tuyệt đẹp nhất thời kỳ]

+Phiếu mai chi niên: [摽梅之年]----->[Phiếu là rơi, rụng còn Mai là "Mai tử (梅子 = trái mơ)" thành thục sau rụng xuống. So sánh nữ tử đã đến xuất giá gả chồng tuổi tác]

+nhược quán chi năm: nhược quan chi niên [弱冠之年], khoảng 20 tuổi---->["Nhân sinh mười năm gọi là ấu, học; hai mươi gọi là nhược, quan." Cổ đại nam tử 20 tuổi cử hành quan lễ, tỏ vẻ đã trưởng thành. Sử dụng sau này "Nhược quán" chỉ nam tử 20 tuổi tả hữu tuổi]

+nhi lập chi niên: [而立之年], 30 tuổi----->[ Hình dung người tới ba mươi tuổi cần phải tự lập sinh sống ý tứ]

+bất hoặc chi niên: [不惑之年], 40 tuổi---->[Hình dung người đến bốn mươi tuổi có thể minh phân biệt lí lẽ ý tứ]

+Thiên mệnh chi niên: [天命之年], 50 tuổi ----->[Là cổ nhân hình dung người tới năm mươi sự tình, phong nhã tự thuật phương pháp."Tri thiên mệnh" không phải mặc cho số phận, không đạt được gì, mà là mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, nỗ lực làm nhưng không hi vọng kết quả. Cho nên, "Năm mươi tri thiên mệnh", là nói năm mươi tuổi sau đó, biết rồi lý tưởng thực hiện chi gian nan, vì vậy làm việc không hề truy cầu kết quả]

+hoa giáp: [花甲], 60 tuổi----->[Sáu mươi tuổi tức một một giáp. Do Thiên can, chi tổ hợp, mỗi một can chi đại biểu một năm, sáu mươi năm vì một tuần hoàn. Nhân can chi danh hiệu phức tạp tham hỗ, cố xưng Hoa giáp tử. Sau xưng niên mãn sáu mươi vì "Hoa giáp"]

+cổ lai hi: [古来稀], 70 tuổi----->[cổ ngữ, Bảy mươi tuổi cao linh nhân từ cổ tới nay liền không nhiều thấy. Chỉ đắc hưởng thọ không dễ. Bởi vì ở cổ đại mọi người sinh hoạt trình độ rất thấp, chữa bệnh điều kiện vệ sinh trạng huống đều không phải thực tốt, cho nên người bình thường rất khó sống đến 70 tuổi niên linh, cho nên sẽ có "nhân sinh thất thập cổ lai hy" Cổ Ngữ xuất hiện]

+mạo điệtchi niên: [耄耋之年], 80 ~ 90 tuổi----->[Tách ra giải thích: "Mạo": Tuổi già, tám chín mươi tuổi niên kỉ; "Điệt": Tuổi già, bảy tám mươi tuổi niên kỉ =>"Mạo điệt" là chỉ tuổi tác rất lớn người ý tứ ]

+triêu mai chi niên: [朝枚之年], 80 tuổi

+Thai bối chi niên: [鲐背之年], 90 tuổi ---->[Thai là một loại cá tên "Thai ngư {鲐鱼}" (tra GG hình như cá Basa thì phải :3), trên lưng vằn giống như nếp nhăn của các lão nhân , hoặc chỉ trường thọ lão nhân ]

+kỳ di chi niên: [期颐之年], 100 tuổi---->[Kỳ là chờ mong, di là cung cấp nuôi dưỡng, ý gọi là trăm tuổi lão nhân ăn uống sinh hoạt hàng ngày không thể tự gánh vác, hết thảy cần chờ mong người khác cung cấp nuôi dưỡng hoặc chiếu cố ý tứ]


-----------Mục biến thái---------------

+dê hai chân: Lưỡng cước dương [两脚羊]---->[chính là chỉ những người bị xem như làm thức ăn, nhất là tại chiến loạn cổ đại, dân chúng lầm than, khó có thể sinh sống mọi người chỉ phải đem người nấu ăn. Cũng có một số nơi "Lưỡng cước dương" thì lại có cách gọi khác là"Hòa cốt lạn (和骨烂)" chỉ những nhi đồng/hài tửý tứ]

+Không tiện dương:Bất tiện dương (不羡羊)---->[là chỉ thiếu phụ, thiểu ngả giả (một loại thịt cao cấp hơn cả thịt dê ý tứ) ]

+Tha đem hỏa: Nhiêu bả hỏa (饶把火)" ---->[là chỉ vừa gầy vừa già nam tử ]

----------------------------------------------------

1- Ngô Thập Hữu Ngũ Nhi Chí Vu Học (吾十有五而志于学)

Trong sách Luận ngữ, thiên Vi Chính, Khổng Tử nói: "Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học" có nghĩa là khi 15 tuổi, ta (Khổng Tử) lập chí (xác định, quyết tâm) chuyên tâm vào việc học hành.

2- Tam Thập Nhi Lập (三十而立)

Do 15 tuổi đã coi chuyện đèn sách là một việc hệ trong trong đời (lập chí) bởi vậy, sau 15 năm trui rèn, nỗ lực phấn đấu... ta đã có đủ kiến thức lại kinh qua trải nghiệm thực tế nên đến năm 30 tuổi (tam thập) có thể tự thân lập định chí hướng cho riêng mình (nên hiểu ý của toàn văn câu này là trình độ nhận thức về bản thân (Khổng Tử), về gia đình, xã hội, thế thời... đã đủ độ, đạt tới sự chín chắn, vững vàng).

3- Tứ Thập Nhi Bất Hoặc (四十而不惑)

Có nghĩa là khi người ta tới 40 tuổi (tứ thập) thì lúc bấy giờ đã có thể hiểu thấu đáo mọi lý lẽ trong đời sống như Tam cương, Ngũ thường, tham sân si, đã biết cách điều tiết các mối quan hệ trong gia đình hoặc ngoài xã hội (Tề gia trị quốc); phân biệt được việc phải hay trái, đúng sai, biết được cái gì nên làm, cái gì không nên...

4- Ngũ Thập Nhi Tri Thiên Mệnh (五十而知天命)

Phàm là người, nếu tính từ khi trưởng thành đến khi 50 tuổi (ngũ thập), chí ít cũng có đến 25, 30 năm trải nghiệm với cuộc sống đời thường, trực tiếp trải nghiệm và chứng kiến những nhân tình thế thái... ; 50 tuổi, nếu là quan thì nhận thức một cách thấu đáo về mọi nhẽ, đã hiểu thế nào là "quan hoạn", thế nào là sĩ đồ ? Đã hiểu thế nào là chốn "quan trường", thể nào là chính trị...; biết được sự vận chuyển của càn khôn, quy luật sinh tồn của tạo hóa, biết được vận số, kiếp nạn... Và đương nhiên, sẽ nhận thức một cách sâu sắc về thời đại, về hiện tại, tương lai, về "mệnh trời" (tri thiên mệnh).

5- Lục Thập Nhi Nhĩ Thuận (六十而耳順)

"Lục thập nhi nhĩ thuận" có nghĩa khi người ta tới 60 tuổi thì đạt đến mức độ hoàn hảo về mọi mặt, kể cả lý thuyết và phần thực hành. Từ "nhĩ thuận" có nghĩa là nghe ai đó nói, nhận xét, bình phẩm, đề xuất... thì có thể biết ngay được sự đúng sai mà chẳng cần phải mất công hao tâm tổn trí (sự chín chắn trong tư duy, nhận thức đạt đến độ sắc xảo), không bị dụ dỗ, mê hoặc.

6- Thất Thập Nhi Tùng Tâm Sở Dục, Bất Du Củ (七 十 而 從 心 欲, 不 踰 矩).

Toàn câu "Thất thập nhi tùng tâm sở dục, bất du củ" có nghĩa là khi ta (con người ta nói chung và Khổng Tử nói riêng) tới ngưỡng của tuổi 70 (thất thập) thì con người sẽ đạt đến trình độ hoàn hảo. Hoàn hảo ở đây có nghĩa là hoàn hảo về tất cả các mặt, về mọi lĩnh vực (... bởi vậy trong dân gian ta hay có câu "Khôn chi khôn trẻ" chính là nói về vấn đề này. Do hoàn hảo về mọi vấn đề nên trong cách ứng xử đều hợp với nhân tình thế thái, hợp với "Phép nước lệ làng" hợp với quy luật xã hội vậy.

-----------------------------------

Tẫn kê tư thần:(牝鸡司晨)

Giải nghĩa:

Tẫn kê: gà mái

Tư: chưởng quản

Thần: bình minh.

Tẫn kê tư thần (牝鸡司晨), hay còn đọc là tẫn kê ti thần, nghĩa đen là gà mái gáy vào sáng sớm giống như gà trống, ý nói gà mái mà đi báo sáng. Nghĩa bóng là việc của đàn ông mà phụ nữ làm thay.

Gà mái báo sáng là hiện tượng biến dị về giới tính của sinh vật, nhưng thời trước dùng để so sánh phụ nữ soán quyền loạn thế, bởi vì phụ nữ cổ đại chịu trình độ giáo dục rất thấp, thường thường làm ra những chính sách nhiễu loạn xã hội. Cho nên người ta cho rằng là điềm báo của tai họa.

Video liên quan