Khẩu độ, tốc độ ISO và các mối tương quan

Sep. 09, 2010 | Kỹ thuật nhiếp ảnh, video | 46,924x | Qui định | Tham gia    

Shutter Speed, Aperture & ISO

Trước đây, VinaCamera.com đã có bài viết dài và chi tiết về các yếu tố tạo nên một bức ảnh. Để người mới chơi ảnh – trong đó có ảnh kỹ thuật số – dễ dàng nắm bắt cách sử dụng máy ảnh, chúng tôi xin có bài viết ngắn gọn sau đây giới thiệu ba yếu tố cơ bản nhất mà bất kỳ người mới chơi ảnh nào cũng cần tìm hiểu khi chụp ảnh.

Khẩu độ, tốc độ ISO và các mối tương quan

Hoa và ảnh số

Mỗi bức ảnh được tạo nên bởi việc cho bản phim (nay là cảm biến quang trên thân máy ảnh kỹ thuật số) tiếp xúc với ánh sáng trong khuôn hình muốn chụp. Quá trình tiếp xúc này được gọi là phơi sáng (exposure). Để điều tiết mức độ phơi sáng của một bức ảnh, tức tạo một giá trị phơi sáng nhất định (exposure value / EV), trong nhiếp ảnh sử dụng 3 yếu tố cơ bản là tốc độ cửa chập (shutter speed), khẩu độ mở của ống kính (aperture) và độ nhạy của phim hay cảm biến (ISO).

Cửa chập và tốc độ cửa chập (shutter speed)

Trong cấu tạo của máy ảnh, chắn trước cảm biến thu nhận ánh sáng là một (hay nhiều) lá thép để không cho ánh sáng đi tới cảm biến khi máy ảnh chưa “chụp ảnh” được gọi là cửa chập (có người viết là cửa trập). Khi bấm nút chụp (release button), cửa chập mở ra để ánh sáng đi vào cảm biến và đóng lại rất nhanh. Thời gian của chập mở rồi đóng lại nhanh hay chậm chính là tốc độ của cửa chập. Cửa chập mở lâu thì thời gian phơi sáng của cảm biến sẽ lâu hơn và cảm biến sẽ thu được nhiều ánh sáng hơn, làm cho ảnh sáng hơn; ngược lại, của chập mở-đóng nhanh ảnh sẽ tối hơn. Thời gian phơi sáng của cảm biến – cửa chập mở rồi đóng) rất rất rất nhanh và thường được tính bằng phần của giây đồng hồ, ví dụ 1/30 giây (1/30s – “s” là chữ viết tắt của từ second = giây trong tiếng Anh), 1/60 giây, 1/125 giây, 1/250 giây, 1/500 giây, 1/1250 giây, v.v…

Để bảo đảm một tấm ảnh có ánh sáng vừa đủ đẹp, người chụp có thể điều chỉnh để tốc độ cửa chập chậm hơn (nếu ánh sáng chủ thể yếu) hay nhanh hơn (nếu ánh sáng chủ thể mạnh). Việc đặt tốc độ của cửa chập nhanh hay chậm phụ thuộc vào hoàn cảnh chụp ảnh, chủ thể và mục đích của một bức ảnh.

• Giảm tốc độ cửa chập để tăng độ sáng của ảnh. • Tăng tốc độ cửa chập để giảm độ sáng của ảnh. • Tăng tốc độ cửa chập để chụp các vật thể chuyển động, tránh ảnh bị nhòe. Để chụp được các chủ thể chuyển động nhanh như chim bay lượn, cần tăng tốc độ tối thiểu là 1/1250s. • Tăng tốc độ cửa chập để giảm hiện tượng rung tay cầm máy, tránh ảnh bị nhòe. Với một tay máy trung bình, để bảo đảm triệt tiêu hoàn toàn hiện tượng rung tay máy ở đa phần ảnh chụp, cần tăng tốc độ lên tới 1/250s đến 1/500s.

• Chuyển chế độ chụp sang thủ công (manual) hoặc ưu tiên tốc độ cửa chập (shutter speed priority / S ở Nikon và Tv ở Canon) để làm chủ tốc độ cửa chập.

Khẩu độ mở của ống kính (aperture)

Mỗi ống kính được tạo bởi nhiều thấu kính và một lỗ điều tiết ánh sáng có thể điều chỉnh to hay nhỏ. Kích thước của lỗ điều tiết này khi chụp một bức ảnh gọi là khẩu độ mở của ảnh (aperture). Giá trị to hay nhỏ của lỗ điều tiết ánh sáng này trên ống kính thường được tính bằng một hệ số (hay tỷ lệ giữa chiều dài tiêu cự và đường kính của lỗ điều tiết ánh sáng), ví dụ, f/1, f/1.4, f/1.8, f/2, f/2.8, f/4, f/5.6, f/8, f/11, f/16, f/32, f/64. Chính vì đây là một hệ số nên chỉ số càng nhỏ có nghĩa là khẩu độ mở của lỗ điều tiết ánh sáng càng lớn, chỉ số càng lớn khẩu độ mở càng nhỏ, ví dụ khẩu độ mở khi đặt f/2.8 lớn hơn f/4.

Một điều dễ hiểu là khẩu độ mở càng lớn (chỉ số F càng nhỏ) – tức là lỗ điều tiết ánh sáng mở càng lớn – thì ánh sáng đi vào cảm biến càng nhiều, ảnh càng sáng hơn; ngược lại, khẩu độ mở càng nhỏ (chỉ số F càng lớn) thì ảnh càng tối hơn. Việc điều chỉnh khẩu độ mở lớn hay nhỏ phụ thuộc vào nhiều yếu tố gồm ánh sáng môi trường và mục đích chụp ảnh.

• Khẩu độ mở lớn (F nhỏ), ảnh sáng hơn, phù hợp chụp trong môi trường ánh sáng yếu. • Khẩu độ mở nhỏ (F lớn), ảnh tối hơn, phù hợp trong môi trường ánh sáng mạnh. • Khẩu độ ảnh hưởng tới tương quan độ nét của các chủ thể trong ảnh: (1) Khẩu độ mở lớn, chủ thể chính được lấy làm điểm căn nét sẽ nét, các chủ thể phụ, trong đó có hậu cảnh (cảnh đằng sau chủ thể chính) và tiền cảnh (cảnh đằng trước chủ thể chính) sẽ nhòa mờ do độ nét thấp hơn; (2) Khẩu độ mở nhỏ khiến độ nét sâu hơn, các chủ thể trong khuôn hình sẽ có chênh lệch độ nét thấp hơn. Đọc thêm trên VinaCamera.com về chiều sâu ảnh trường (depth of filed / DOF). • Nếu muốn làm chủ thể nổi bật với độ nét cao còn hậu cảnh nhòa mờ (tức tạo hiệu ứng xóa phông / blur background), cần tằng khẩu độ mở lớn hơn (ví dụ f/1.4, f/2.8), phù hợp với chụp chân dung hay vật thể tiêu điểm, v.v… • Nếu muốn mọi chủ thể trong ảnh đều nét, cần giảm khẩu độ mở nhỏ hơn (ví dụ f/8, f/11), phù hợp với chụp ảnh nhóm người, phong cảnh, kiến trúc, v.v…

• Chuyển chế độ chụp về thủ công (manual) hoặc ưu tiên khẩu độ mở (aperture priority / A ở Nikon và Av ở Canon) để làm chủ khẩu độ mở.

Ghi chú về khẩu độ mở:
a. Ống kính khác nhau có khẩu độ mở lớn tối đa khác nhau. Do công nghệ làm ống kính, các ống kính có khẩu độ mở lớn ở các tiêu cự dài có giá rất đắt.
b. Trên các ống zoom thường có 2 chỉ số khẩu độ mở tương ứng với khẩu độ mở lớn nhất ở tiêu cự ngắn nhất và dài nhất. Ví dụ, ống Nikon AF-S 18-70mm f/3.5-5.6 sẽ có khả năng mở khẩu độ tối đa là f/3.5 ở tiêu cự 18mm, còn ở tiêu cự 70mm khẩu độ mở tối đa chỉ là f/5.6.
c. Các ống zoom có khẩu độ mở lớn và không đổi suốt chiều dài tiêu cự có giá rất đắt, ví dụ ống Nikon 70-200mm f/2.8 có giá khoảng $2400 USD.
d. Khẩu độ mở lớn rất quan trọng không những trong việc bảo đảm ánh sáng của ảnh khi chụp ở môi trường ánh sáng yếu mà còn giúp tạo các hiệu ứng xóa phông cũng như cho phép tăng tốc độ cửa chập chống hiện tượng rung tay cầm máy và khả năng bắt nét các chủ thể chuyển động hiệu quả hơn.

Độ nhạy ISO

Yếu tố thứ ba ảnh hưởng tới độ sáng tối của một bức ảnh là độ nhạy bắt sáng của phim hay cảm biến quang trên máy ảnh kỹ thuật số, gọi là độ nhạy ISO (hay đơn giản là ISO). ISO càng cao thì cảm biến bắt sáng càng nhạy, giúp giảm thời gian phơi sáng (tức tăng tốc độ cửa chập). Tuy nhiên, một nhược điểm của cả phim nhựa lẫn cảm biến số là ISO càng tăng thì độ nhiễu màu và hạt (ảnh bị hiện tượng sần, rỗ, không mịn đều các mảng màu) càng tăng. Vì vậy, xu hướng khi chụp là cố gắng giữ ISO ở mức thấp nhất và cùng bất đắc dĩ, sau khi đã mở khẩu độ tối đa cũng như giảm tốc độ cửa chập xuống hết mức cho phép mà ảnh vẫn không đủ sáng người ta mới phải “cầu cứu” đến việc tăng độ nhạy ISO.

Như vậy, 3 yếu tố nêu trên gồm tốc độ của chập, khẩu độ mở và ISO là các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới độ sáng của ảnh và các hiệu ứng hình ảnh khác. Việc kết hợp hài hòa 3 yếu tố này để ánh có ánh sáng đẹp với các hiệu ứng kèm theo chính là điểm căn bản trong nghệ thuật nhiếp ảnh từ xưa tới nay và sẽ tiếp tục là đề tài bàn luận trong tương lai.

Khẩu độ, tốc độ ISO và các mối tương quan

Đọc thêm các bài khác liên quan:
• Tìm hiểu thêm về khẩu độ mở (Aperture revisited)
• Sử dụng các chế độ ưu tiên khẩu độ, tốc độ và lập trình
• Bảng giá trị phơi sáng (EVs)
• Khái niệm cơ bản trong nhiếp ảnh và ảnh kỹ thuật số (2)
• Khái niệm cơ bản trong nhiếp ảnh và ảnh kỹ thuật số (1)

VinaCamera.com
2008-2010

Ba độ phơi sáng nghe có vẻ giống như tên của một cuốn tiểu thuyết gián điệp phức tạp, nhưng trên thực tế, đó là thuật ngữ được sử dụng cho ba yếu tố cơ bản của độ phơi sáng: khẩu độ, tốc độ màn trập và độ nhạy sáng ISO. Chúng được gọi chung là tam giác phơi sáng.

Khẩu độ, tốc độ ISO và các mối tương quan

Tạo độ phơi sáng hài hòa bằng cách sử dụng khẩu độ, tốc độ màn trập và ISO là một hành động kết hợp. Ngay sau khi bạn đưa ra quyết định về một yếu tố, bạn cần phải thỏa hiệp với một yếu tố khác.

Bí quyết để cân bằng tam giác tiếp xúc đó là để cả ba yếu tố hoạt động cùng nhau, bạn sẽ có được kết quả mong muốn.

Do đó, nó thực sự có giá trị trong nền tảng cơ bản như:

  • Tốc độ màn trập (thời gian cảm biến của máy ảnh tiếp xúc với ánh sáng).
  • Khẩu độ là gì (ống kính cho phép bao nhiêu ánh sáng, cũng ảnh hưởng đến độ sâu của ảnh).
  • Độ nhạy ISO (mức độ nhạy của cảm biến).

Ngoài vai trò của chúng trong việc phơi sáng, việc lựa chọn khẩu độ, tốc độ và ISO có tác động đáng kể đến hình ảnh của bạn.

Khẩu độ, tốc độ ISO và các mối tương quan

Ảnh bên trái được chụp ở f / 2.8, trong khi ảnh bên phải được chụp ở f / 5.6

Khẩu độ, như chúng tôi đã đề cập ở trên, ảnh hưởng đến độ sâu trường ảnh hoặc độ sắc nét của hình ảnh. Tốc độ màn trập cũng ảnh hưởng đến độ sắc nét, tốc độ màn trập chậm sẽ dẫn đến hình ảnh bị mờ khi chủ thể di chuyển.

Khẩu độ, tốc độ ISO và các mối tương quan

Lựa chọn ISO cho phép bạn sử dụng sự kết hợp tối ưu giữa khẩu độ và tốc độ cửa trập khi lượng ánh sáng bình thường ngăn cản bạn làm như vậy. Tuy nhiên, việc tăng ISO cũng làm giảm chất lượng hình ảnh của bạn.

Khẩu độ, tốc độ ISO và các mối tương quan

Sử dụng tam giác tiếp xúc để quyết định cách điều chỉnh độ phơi sáng: Điều quan trọng là khi bạn tăng độ phơi sáng cho một yếu tố (mũi tên màu vàng), bạn cần giảm độ phơi sáng cho một hoặc cả hai yếu tố khác (mũi tên màu xám) để duy trì độ phơi sáng như cũ.

Máy ảnh có thể làm điều này cho bạn khi bạn đặt chế độ, ưu tiên khẩu độ hoặc ưu tiên màn trập, nhưng đó là điều bạn sẽ cần cân nhắc khi chụp ở chế độ Thủ công.

Có được mối quan hệ này và bạn sẽ kiểm soát nhiều hơn giao diện của mỗi hình ảnh bạn chụp.

Khẩu độ, tốc độ ISO và các mối tương quan

Cũng cần nhớ rằng tại một thời điểm, tốc độ và khẩu độ là những biến số phơi sáng duy nhất mà bạn có thể thay đổi từ lần này sang lần khác, vì ISO được đặt thành loại phim bạn đang sử dụng, nhưng sự ra đời của máy ảnh kỹ thuật số đã làm có thể thay đổi ISO trên máy ảnh thay vì sử dụng một cuộn phim khác.

Các nhiếp ảnh gia hiện có nhiều quyền kiểm soát độ phơi sáng hơn bao giờ hết. Bây giờ, chúng ta hãy xem xét một số câu hỏi phổ biến của các nhiếp ảnh gia về độ phơi sáng.

Phơi sáng – cho phép ánh sáng đi tới cảm biến máy ảnh để chụp ảnh – được đo bằng cái thường được gọi là ‘điểm dừng’, với mỗi điểm dừng đại diện cho cả hai hoặc một nửa độ phơi sáng. tiếp điểm của các điểm dừng liền kề.

Tăng độ phơi sáng một lần và cảm biến máy ảnh nhận được độ phơi sáng gấp đôi. Giảm một lần và độ phơi sáng giảm đi một nửa.

Ba cài đặt máy ảnh cho phép bạn kiểm soát độ phơi sáng – khẩu độ, tốc độ và ISO – đều có thể được đo bằng điểm dừng. Ví dụ: tốc độ cửa trập 1/50 giây chậm hơn một giây so với 1/100 giây, có nghĩa là cảm biến được phơi sáng gấp đôi. Tuy nhiên, cùng một tốc độ cửa trập 1/50 giây sẽ làm cho cảm biến có thời gian nửa chừng tốc độ cửa trập là 1/25 giây.

Tương tự như ISO, với ISO 400 thì một điểm nhạy hơn ISO 200, nhưng một điểm lại kém nhạy hơn ISO 800. Mối quan hệ giữa phạm vi khẩu độ có sẵn trên ống kính là tương tự, nhưng chuỗi dữ liệu phức tạp hơn: Thực tế trên thực tế f /5,6 là một phần nhỏ của f / 4 nhưng lớn hơn f / 8 một bước.

Khi bạn kích hoạt đồng hồ của máy ảnh bằng cách nhấn nửa chừng nút chụp, máy ảnh sẽ đề xuất một thông số đo sáng dựa trên độ sáng của khu vực đó. Điều này thường được biểu thị theo thứ tự của giá trị tốc độ ở một khẩu độ nhất định và ISO – như / 60 giây ở f / 8, ISO 200.

Đơn giản chỉ cần chụp các chế độ phơi sáng bán tự động – Ưu tiên khẩu độ, Ưu tiên tốc độ, cho phép bạn kiểm soát nhiều hơn cách bạn phơi sáng, mỗi chế độ theo một cách khác nhau, Trong khi chế độ thủ công cho phép bạn tinh chỉnh hoàn toàn khẩu độ, tốc độ và ISO.

Khẩu độ, tốc độ ISO và các mối tương quan

Mặc dù có thể có mức độ phơi sáng thích hợp, nhưng có một số cách để đạt được điều đó. Tất cả là về sự cân bằng: Nếu bạn tăng một trong ba cài đặt kiểm soát độ phơi sáng (khẩu độ, tốc độ màn trập hoặc ISO), một hoặc cả hai cài đặt khác phải giảm cùng một lượng để duy trì tổng số. duy trì mức độ tiếp xúc chung.

Ví dụ: phơi sáng 1/25 giây ở f / 16, ISO 100 tương đương với phơi sáng 1/400 giây ở f / 2.8, ISO 100. Vì tốc độ cửa trập giảm 4 lần (1/25-1 / 50 – 1/100 – 1/200 – 1/400), nghĩa là thu được ít ánh sáng hơn, khẩu độ phải tăng kích thước lên bốn stop (f / 16 – f / 11 – f / 8 – f / 5.6 – f / 2.8) để thu được nhiều ánh sáng hơn, nếu không ảnh sẽ tối hơn bốn điểm dừng.

Không hoảng loạn! Nếu bạn chọn chụp ở một trong các chế độ bán tự động, máy ảnh sẽ thực hiện hầu hết các công việc thủ thuật cho bạn. Ví dụ: khi bạn đặt khẩu độ ở chế độ ưu tiên khẩu độ, tốc độ cửa trập được đặt tự động. Nếu bạn quyết định thay đổi khẩu độ, máy ảnh sẽ điều chỉnh tốc độ cửa trập phù hợp để duy trì mức phơi sáng như cũ.

Đó là một câu chuyện tương tự với chế độ ưu tiên màn trập: bạn đặt tốc độ cửa trập và máy ảnh cố gắng khớp khẩu độ thích hợp này. Bạn thậm chí có thể sử dụng tùy chọn ISO tự động để cho phép máy ảnh xử lý lựa chọn. Tất nhiên, tất cả những điều chỉnh này đều dựa trên việc máy ảnh đạt được độ phơi sáng tối ưu.

Khẩu độ, tốc độ ISO và các mối tương quan

Phơi sáng có thể được áp dụng ở các chế độ ưu tiên khẩu độ, ưu tiên màn trập. Nó cũng được đo bằng điểm dừng: Độ phơi sáng bạn thấy trong kính ngắm hoặc trên màn hình phía sau của máy ảnh có một dấu rõ ràng trên đó. Bạn thường có thể tăng hoặc giảm độ phơi sáng lên đến 5 điểm dừng.

Những điểm này đại diện cho một nửa điểm dừng hoặc một điểm dừng thứ ba, tùy thuộc vào cách máy ảnh của bạn được thiết lập. Mặc dù có thể thay đổi hoàn toàn độ phơi sáng, nhưng bạn sẽ kiểm soát tốt hơn bằng cách điều chỉnh độ phơi sáng theo từng bước nhỏ hơn.

techradar.com

Xem thêm nhiều bài mới tại : Kiến Thức Nhiếp Ảnh

Nguồn : xuconcept.com

Video liên quan

Tải thêm tài liệu liên quan đến bài viết Khẩu độ, tốc độ ISO và các mối tương quan