Tế bào hồng cầu trong môi trường đẳng trương

Bài 3: Xác định độ bền của màng tế bào hồngcầuI.Yêu cầu bài học1. Phân biệt môi trường ưu, nhược và đẳng trương.2. Phản ứng của tế bào động vật trong các loại môi tr ường đó.3. Thành phần cấu trúc nào của màng tế bào hồng cấu giúp cho nó cóthể thay đổi thể tích trong một giới hạn nhất định.4. Thế nào là độ bền màng tế bào hồng cầu? Ý nghĩa?5. Thành thạo phương pháp sử dụng dunng dịch nhược tr ương đểxác định độ bền của màng tế bào hồng cầu.II.Nguyên lí1. Các môi trường bên ngoài tế bào:• Môi trường đẳng trương: nồng độ chất tan trong và ngoài tếbào tương đương nhau.• Môi trường ưu trương: nồng độ chất tan bên ngoài lớn hơnbên trong tế bào.• Môi trường nhược trương: nồng độ chất tan bên ngoài th ấphơn bên trong tế bào.2. Phản ứng của tế bào hồng cầu trong các loại môi trường trên:• Môi trường đẳng trương: tế bào hồng cầu nguyên vẹn màngtế bào hồng cầu bền trong môi trường đẳng trương.• Môi trường ưu trương: tế bào hồng cầu co nhăn nhúm lại dochịu áp suất thẩm thấu từ bên ngoài vào, làm cho l ượng n ướctrong tế bào ngày càng thấp• Môi trường nhược trương: tế bào hồng cầu trương phồng lênvà màng của nó bị bung ra do phải chịu tác động của một l ựcgây ra bởi áp suất thẩm thấu từ bên trong làm cho lượngnước trong tế bào ngày một tăng lên và cuối cùng giải phóngcác chất từ nôi bào ra bên ngoài, gây ra hiện t ượng huy ết tiêu.3. Thành phần cấu trúc màng tế bào hồng cầu giúp chúng thay đổithể tích trong một giới hạn nhất định.• Cấu tạo màng tế bào hồng cầu nhìn chung giống như màngsinh chất cuả các loại tế bào khác gồm 3 lớp kép.• Điểm khác biệt: mặt trong màng tế bào hồng cầu tồn tại mộtmạng lưới vật chất có nguồn gốc là protein dạng sợi, được gọilà spectrin.Hình 2: M ạng l ưới spectrin ràng bu ộc v ới các actin s ợi ng ắn.• Spectrin chiếm tỉ lệ 30% tổng số protein của màng và là ph ưchợp của hai sợi polypeptit có trọng lượng phân tử khoảng220.000 – 240.000Da. Cùng với một vài loại protein khác,spectrin tham gia vào quá trình biến đổi hình dạng của h ồngcầu thông qua việc co ngắn hay duỗi dài dạng sợi của mình tếbào hồng cầu có thể biến dổi hình dạng, giúp cho nó đi quađược các mao mạch nhỏ li ti ở khắp cơ thể.Hìnhcầumạch3: Tế bào hồngqua các maonhỏ•Đặcbiệt ởlách, những tế bào hồng cầu đã già hoặc bị thoái hoá vì v ậy cácsơị spectrin bị giảm khả năng co dãn đàn hồi , vì vậy tế bàohồng cầu không có khả năng qua mao mạch và bị lách tiêu huỷ.4. Độ bền màng hồng cầu: chính là nồng độ dung dịch muối trongmôi trường nhược trương, tại đó không xảy ra hiện tượng tế bàohồng cầu bị huyết tiêu.III.Thực hành.1. Nhiệm vụ: Xác định nồng độ nhược trương lớn nhất bằng baonhiêu để chưa đủ gây ra hiện tượng huyết tiêu, thì đó chình lànồng độ bền.2. Hoá chất và dụng cụ:• ống nghiệm, pipet, máy li tâm• dung dịch NaCl 2%, nước cất, máu chống đông (chứa heparin)3. Các bước tiến hành:- Bước 1: lấy mẫu tế bào hồng cầu gà ( đã chuẩn bị sẵn)• Lấy máu gà đã được chống đông• Li tâm tách huyết tương (1200 vòng/ phút, trong 5 phút)• Rửa tế bào hồng cầu bằng dung dịch đẳng trương NaCl 0,9trong 3 lần- Bước 2: pha dung dịch NaCl, xác định độ bền màng tế bào hồng c ầu• Chuẩn bị 10 ống li tâm, đánh số từ 0 đến 10.• Pha vào mỗi ống nghiệm 1 ml dung dịch muối NaCl tương ứngcác nồng độ 0; 0,1; 0,2;….;0,9% từ dung dịch NaCl 2%.Ống nghiệm0123456789(%)00,1 0,2 0,3 0,4 0,5 0,6 0,7 0,8 0,90100 200 300 400 500 600 700 800 900100 900 800 700 600 500 400 300 200 1000• Thêm vào mỗi ống nghiệm 100 dung dịch hồng cầu gà đãchuẩn bị ở trên.Hình 4: ống nghiệm sau khi thêm hồng cầu gà, chưa li tâmIV.• Để các ống nghiệm vào tủ ấm 37 trong 15 phút, rồi li tâm 3000vòng/phút trong 5 phút.• Lấy ra đọc kết quả.Kết quả thực hành:Hình 5: kết quả sau khi li tâm1. Bảng số liệu sau khi quan sát:ỐngnghiệmMàusăc0123456789ĐỏĐỏĐỏĐỏĐỏnhạtTrongsuốtTrongsuốtTrongsuốtTrongsuốtTrongsuốt2. Nhận xét và giải thích:- Ống nghiệm 0, 1, 2, 3 tương ứng chứa nồng độ dung dịch NaCl là 0;0,1; 0,2; 0,3, thì dung dịch có màu đỏ do môi tr ường bên ngoài t ế bàohồng cầu là nhược trương, nồng độ chất tan bên ngoài th ấp h ơn bêntrong tế bào, vì vậy nước đi vào trong tế bào hồng cầu, làm cho tếbào phình lên, vơ ra gây ra hiện tượng huyết tiêu.- Ống nghiệm số 4 chứa dung dịch NaCl 0,4%, thì dung dịch có màu đ ỏnhạt và bắt đầu có hiện tượng phân lớp giữa dung dịch và h ồng c ầuchưa bị vỡ. Nguyên nhân là do tại nồng độ chất tan bên ngoài là 0,4%thì một số hồng cầu có thể bị vỡ còn một số do vẫn có s ự co dãn đànhồi của spectrin nên màng tế bào vẫn nguyên vẹn.- Các ống nghiệm còn lại thì dung dịch có màu trong suốt và h ồng cầukhông bị vỡ do các tế bào hồng cầu đó vẫn có sự co dãn đàn hồi c ủamạng lưới sợi spectrin, nên màng tế bào hồng cầu không bị v ỡ khithể tích bên trong tế bào tăng ít hơn.3. Kết luận:Vậy độ bền màng hồng cầu chính là nồng độ dung dịch muối trong môitrường nhược trương mà không gây ra hiện tượng huyết tiêu đó chính là0,4 -0,5%

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit.Morbi adipiscing gravdio, sit amet suscipit risus ultrices eu.Fusce viverra neque at purus laoreet consequa.Vivamus vulputate posuere nisl quis consequat.

Create an account

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Tống Văn Hoàn - Bác sĩ Hồi sức Cấp cứu - Khoa Hồi sức Cấp cứu - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng.

Dung dịch đẳng trương là tên gọi của 2 loại dung dịch có cùng áp suất thẩm thấu giữa hai bên của một màng bán thấm. Trong Y khoa, màng bán thấm được chọn là màng tế bào hồng cầu và so sánh áp suất thẩm thấu đối với huyết tương. Dung dịch đẳng trương là loại dịch truyền rất thường được sử dụng nhằm hồi phục nhanh thể tích tuần hoàn của cơ thể.

Dung dịch đẳng trương là tên gọi của một loại dung dịch so với dung dịch đối chứng còn lại có cùng áp suất thẩm thấu, hoặc nồng độ chất tan, giữa hai bên của một màng bán thấm. Trạng thái này cho phép có sự chuyển động tự do của các phân tử nước trên màng mà không làm thay đổi nồng độ các chất hòa tan ở môi trường hai bên màng mặc dù nước đang di chuyển trên cả hai chiều.

Trong sinh học, một số tế bào sống phải được duy trì trong môi trường hằng định là dung dịch đẳng trương để tạo điều kiện thuận lợi cho các chức năng của tế bào. Lúc này, thành tế bào mới ổn định, vừa duy trì hình dạng cấu trúc, bảo vệ các bào quan bên trong và vừa đóng vai trò là màng bán thấm, giúp tế bào trao đổi nước với môi trường bên ngoài.

Dựa trên nguyên lý này, huyết tương bao quanh các tế bào máu là một dung dịch đẳng trương lý tưởng, cho phép các tế bào di chuyển các phân tử nước và chất dinh dưỡng vào và ra khỏi tế bào. Đây là điều kiện cần thiết cho các tế bào máu để thực hiện chức năng cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng cho các bộ phận khác trên khắp cơ thể. Nếu các tế bào ở trong môi trường của dung dịch ưu trương, nước từ bên trong tế bào sẽ bị thất thoát ra ngoài, tế bào bị teo nhỏ, suy kiệt. Ngược lại, nếu các tế bào ở trong môi trường của dung dịch nhược trương, nước từ bên ngoài tế bào sẽ ồ ạt đi vào bên trong, tế bào bị trương phình và vỡ ra.

Trong y khoa, khi cơ thể bị mất một lượng dịch lớn, do bất cứ nguyên nhân gì, loại dung dịch được lựa chọn đầu tiên để hồi sức là dung dịch đẳng trương so với máu. Dịch có thể được nhanh chóng đưa vào cơ thể thông qua đường tiêm truyền tĩnh mạch, vừa hồi phục được thể tích tuần hoàn hiệu quả và vừa tái lập môi trường tương đối cân bằng huyết tương mà không làm tổn thương thành tế bào.

Trước khi bắt đầu truyền dịch, cần ghi nhận các dấu hiệu sinh tồn cơ bản, mức độ phù nề hay ứ dịch ở ngoại biên, tiếng âm thổi tại tim, rales phổi và tiếp tục theo dõi trong, sau khi truyền.

Theo dõi các dấu hiệu của giảm thể tích, bao gồm lượng nước tiểu <0,5 ml/kg cân nặng cơ thể/giờ, da niêm khô, nhịp tim nhanh, mạch sờ yếu và hạ huyết áp nhằm quyết định thể tích dịch cần bù và tốc độ truyền.

Theo dõi các dấu hiệu của quá tải dịch như tăng huyết áp, tĩnh mạch cổ nổi, rales phổi, bệnh nhân khó thở, phù ngoại biên nhằm nhanh chóng ngưng truyền dịch và tăng đào thải, cân bằng thể tích xuất – nhập.

Luôn sẵn sàng các phương tiện ứng cứu khi có khả năng xảy ra phản vệ, sốc phản vệ với bất kỳ thành phần nào trong quá trình truyền dịch.

Luôn sẵn sàng các phương tiện ứng cứu khi có khả năng xảy ra phản vệ, sốc phản vệ trong quá trình truyền dịch

Dung dịch này là sự lựa chọn đầu tiên khi cần hồi sức dịch cho người bệnh với chỉ định trong các trường hợp sau:

  • Được sử dụng để thay thế thể tích tuần hoàn bị mất đi do xuất huyết, nôn ói nghiêm trọng hoặc tiêu chảy, hút lượng lớn dịch dạ dày hay dịch từ các lỗ rò hoặc vết thương.
  • Dùng để điều trị sốc, hạ natri máu nhẹ, nhiễm toan chuyển hóa, tăng calci máu.

Khi cần truyền một thể tích lớn, cần thận trọng ở bệnh nhân có tiền căn bệnh tim hoặc bệnh thận vì có thể gây quá tải thể tích chất lỏng cũng như theo dõi tình trạng tăng natri máu khi truyền với thể tích NaCl 0,9% lớn. Điều kiện lý tưởng nhất là nên dùng chung với máu và các chế phẩm từ máu nhằm mục đích hồi phục nhanh thể tích tuần hoàn trong các tình huống sốc mất máu.

Dung dịch muối thông thường, hay còn gọi là nước muối sinh lý

Áp suất thẩm thấu của dung dịch Lactate Ringer là 273 mOsm/L. So với NaCl 0,9%, dung dịch này có thành phần các chất hòa toàn nồng độ thấp hơn, như Na+ 130 mEq/L và Cl- 109 mEq / L, đồng thời còn có thêm các chất điện giải khác như K+ 4 mEq/L, Ca++ 3 mEq/L nên có thể giúp cân bằng nội môi tốt hơn.

Chính vì vậy, ưu điểm này được áp dụng để chọn làm hồi sức truyền dịch đầu tiên cho bệnh nhân bỏng và chấn thương. Ngoài ra, Lactate Ringer cũng được sử dụng để điều trị mất máu cấp hoặc hạ kali máu do thoát vào khoang thứ ba và có các chỉ định khác tương tự dung dịch muối sinh lý như mất dịch qua lỗ rò, mất điện giải kèm mất nước và nhiễm toan chuyển hóa.

Vì trong Lactate Ringer có thành phần lactate nên dung dịch này gặp phải chống chỉ định ở những bệnh nhân không thể chuyển hóa lactate, tức trong các bệnh cảnh tổn thương gan, hoặc gặp nhiễm axit lactic. Tương tự như vậy, dung dịch cũng không được chỉ định dùng nếu pH máu từ trên 7.5 do chức năng gan bình thường sẽ chuyển đổi Lactate Ringer sang bicarbonate nên sẽ gây kiềm nặng hơn. Ngoài ra, vì Lactate Ringer có chứa một ít kali nên cần thận trọng ở bệnh nhân suy thận vì có thể gây tăng kali máu.

Áp suất thẩm thấu của dung dịch đường đẳng trương Dextrose 5% là 253 mOsm/L với thành phần chất hòa tan là có 5 g dextrose/100mL dung dịch hay 50 g dextrose/L dung dịch.

Điểm khác biệt của Dextrose 5% so với hai loại dung dịch đẳng trương nêu trên là có chứa năng lượng với 170 calo/L dung dịch. Do đó, khi truyền vào cơ thể, dung dịch có bản chất là đẳng trương nhưng một khi tế bào đã sử dụng dextrose tạo năng lượng thì dung dịch trở nên nhược trương, đóng vai trò cung cấp một thể tích nước đơn thuần.

Như vậy, Dextrose 5% chỉ được sử dụng với mục tiêu cung cấp lượng nước lớn cho thận nhằm hỗ trợ bài tiết tại các ống thận. Đồng thời, dựa trên khả năng có thể giảm tính thẩm thấu, Dextrose 5% còn có thể được sử dụng để điều trị tăng natri máu.

Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng cần được áp dụng thận trọng, không nên sử dụng đơn độc Dextrose 5% lượng lớn để điều trị hồi sức thể tích vì nó có thể làm pha loãng nồng độ điện giải trong huyết tương trầm trọng. Ngoài ra, Dextrose 5% là chống chỉ định trong giai đoạn hậu phẫu sớm và trên các bệnh nhân đã biết hoặc nghi ngờ có hội chứng tăng áp lực nội sọ. Mặt khác, dù Dextrose 5% có thể cung cấp một số calo, đây không đủ để thay thế dinh dưỡng để kéo dài cho người bệnh.

Dextrose 5% có chứa năng lượng với 170 calo/L dung dịch

Tương tự như Lactate Ringer, dung dịch này không chứa Lactate nên có thể sử dụng cho các bệnh nhân gặp phải chống chỉ định khi dùng lactate.

Huyết tương là một chế phẩm của máu, được xem như là một dung dịch đẳng trương lý tưởng với các thành phần hòa tan tương đồng sinh lý. Tuy nhiên, vì không thể sản xuất nhân tạo, chỉ định chủ yếu của huyết tương là điều chỉnh rối loạn đông máu thay vì hồi sức thể tích tuần hoàn.

Tóm lại, dung dịch đẳng trương là dung dịch sử dụng đầu tay trong các tình huống cần hồi sức dịch nhanh, khôi phục thể tích tuần hoàn. Tuy nhiên, vì có nhiều loại dịch khác nhau, chỉ định sử dụng riêng biệt cho từng trường hợp. Hơn nữa, việc bù dịch với tốc độ nhanh và thể tích lớn cần thận trọng nhằm vừa đạt mục tiêu hồi sức và vừa đảm bảo an toàn người bệnh.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec với hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại cùng đội ngũ chuyên gia, bác sĩ nhiều năm kinh nghiệm trong khám điều trị bệnh, người bệnh hoàn toàn có thể yên tâm thăm khám và điều trị tại Bệnh viện.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số 1900 232 389 (phím 0 để gọi Vinmec) hoặc đăng ký lịch khám tại viện TẠI ĐÂY. Nếu có nhu cầu tư vấn sức khỏe từ xa cùng bác sĩ Vinmec, quý khách đặt lịch tư vấn TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn

XEM THÊM: