Bảo hiểm xã hội tính trên lương nào

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 89 Luật BHXH số 58/2014/QH13, Điều 17 Nghị định số 115/2015/NĐ - CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc thì tiền lương tháng đóng BHXH đối với người lao động đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định từ ngày 1/1/2016 đến ngày 31/12/2017 là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động ghi trong hợp đồng lao động.

Từ ngày 1/1/2018 trở đi là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động ghi trong hợp đồng lao động.

Theo Luật BHXH hiện hành, người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, thì tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH tính theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề [nếu có].

Chế độ tiền lương trong doanh nghiệp do người sử dụng lao động quyết định.

Mức đóng BHXH theo mức lương cơ sở. Người có hệ số lương thấp thì tiền lương làm căn cứ đóng BHXH thấp; người có hệ số lương cao thì đóng cao, nhưng tối đa bằng 20 lần mức lương cơ sở. Từ ngày 1-7-2023, mức lương cơ sở là 1,8 triệu đồng, tương ứng với mức tiền lương đóng BHXH tối đa là 36 triệu đồng.

Dù chưa có quy định rõ về mức tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH thấp nhất với người lao động hưởng chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, nhưng một bộ phận người lao động đang hưởng hệ số lương khá thấp [hệ số 1,86 hay 2,34…]. Vì thế, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH với nhóm lao động này không cao, lần lượt là hơn 3,3 triệu đồng và hơn 4,2 triệu đồng cộng với các khoản phụ cấp [nếu có].

Đối với người lao động đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động [doanh nghiệp] quyết định, thì tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH gồm có mức lương ghi trong hợp đồng lao động, phụ cấp lương [phụ cấp chức vụ, chức danh; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thâm niên… và các khoản bổ sung theo quy định.

Mức tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH thấp nhất không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm đóng. Năm 2023, mức lương tối thiểu vùng của người lao động được quy định như sau:

Vùng Mức lương tối thiểu tháng [Đơn vị: đồng/tháng] Mức lương tối thiểu giờ [Đơn vị: đồng/giờ] Vùng I 4.680.000 22.500 Vùng II 4.160.000 20.000 Vùng III 3.640.000 17.500 Vùng IV 3.250.000 15.600

Mức tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH cao nhất của người lao động trong doanh nghiệp bằng 20 lần mức lương cơ sở.

Như vậy, theo các quy định hiện hành, mức tiền lương tháng thấp nhất làm căn cứ đóng BHXH của người lao động trong khu vực nhà nước và doanh nghiệp có sự khác nhau, còn mức cao nhất giống nhau.

Theo định hướng cải cách chính sách tiền lương, chế độ tiền lương do nhà nước quy định sẽ không căn cứ theo lương cơ sở. Vì thế, tại dự thảo Luật BHXH [sửa đổi], Chính phủ đề xuất bổ sung tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất bằng 50% mức lương tối thiểu tháng thuộc vùng cao nhất; cao nhất bằng 8 lần mức lương tối thiểu vùng cao nhất do Chính phủ công bố. Đây là cơ sở quy định căn cứ đóng BHXH đối với những đối tượng không hưởng tiền lương [chủ hộ kinh doanh; người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương…]; đồng thời cũng là căn cứ để xác định trách nhiệm tham gia đối với đối tượng người lao động làm việc không trọn thời gian.

Nếu những đề xuất mới về mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH được thông qua, khoảng cách chênh lệch về mức lương hưu sẽ dần thu hẹp.

Tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc đối với khu vực ngoài nhà nước [doanh nghiệp] cơ bản kế thừa quy định hiện hành, nhưng quy định cụ thể hơn. Theo đó, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH là tiền lương tháng, bao gồm mức lương, phụ cấp lương, các khoản bổ sung khác, được trả thường xuyên và ổn định trong mỗi kỳ trả lương…

Nếu những đề xuất nêu trên được thông qua, thì tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH của người lao động hưởng chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và do người sử dụng lao động quyết định không có quá nhiều khác biệt. Điều này góp phần thu hẹp khoảng cách hưởng lương hưu giữa các nhóm lao động khi họ hết tuổi lao động.

Đơn vị căn cứ mục 2, Điều 6 Quyết định 595/QĐ-BHXH của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam ngày 14/4/2017 để thực hiện. Theo đó, tiền lương do đơn vị quyết định.

Từ ngày 1/1/2016 đến ngày 31/12/2017, tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là mức lương và phụ cấp lương theo quy định tại Khoản 1 và Điểm a Khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều về HĐLĐ, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/1/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động.

Phụ cấp lương theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH là các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong HĐLĐ chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ như phụ cấp chức vụ, chức danh; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thâm niên; phụ cấp khu vực; phụ cấp lưu động; phụ cấp thu hút và các phụ cấp có tính chất tương tự.

Từ ngày 1/1/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là mức lương, phụ cấp lương theo quy định tại Điểm 2.1 khoản này và các khoản bổ sung khác theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH.

Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc không bao gồm các khoản chế độ và phúc lợi khác, như tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật Lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêng trong HĐLĐ theo Khoản 11 Điều 4 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP.

Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc đối với người quản lý doanh nghiệp có hưởng tiền lương quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP là tiền lương do doanh nghiệp quyết định, trừ viên chức quản lý chuyên trách trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu.

Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc đối với người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP là tiền lương do đại hội thành viên quyết định.

Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc đối với người đại diện phần vốn nhà nước không chuyên trách tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, công ty nhà nước sau cổ phần hóa; công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là tiền lương theo chế độ tiền lương của cơ quan, tổ chức đang công tác trước khi được cử làm đại diện phần vốn nhà nước.

Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc đối với người đại diện phần vốn nhà nước chuyên trách tại các tập đoàn, tổng công ty, công ty là tiền lương theo chế độ tiền lương do tập đoàn, tổng công ty, công ty quyết định.

Mức tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc quy định tại khoản này không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm đóng đối với người lao động làm công việc hoặc chức danh giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường.

Người lao động làm công việc hoặc chức danh đòi hỏi lao động qua đào tạo, học nghề [kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề] phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng; Người lao động làm công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải cao hơn ít nhất 5%; công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương của công việc hoặc chức danh có độ phức tạp tương đương, làm việc trong điều kiện lao động bình thường.

Chủ Đề