Tại sao trong Tiếng Anh là gì

Tiếng Anh hay Anh Ngữ (English /ˈɪŋɡlɪʃ/()) là một ngôn ngữ German Tây, được nói từ thời thời Trung cổ tại Anh, ngày nay là lingua franca toàn cầu.[4][5] Từ English bắt nguồn từ Angle, một trong những bộ tộc German đã di cư đến Anh (chính từ "Angle" lại bắt nguồn từ bán đảo Anglia (Angeln) bên biển Balt). Tiếng Anh có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ Frisia, nhưng vốn từ vựng đã chịu ảnh hưởng đáng kể từ các ngôn ngữ German khác, cũng như từ tiếng Latinh và các ngôn ngữ Rôman, nhất là tiếng Pháp/Norman.[6]Tiếng AnhEnglishPhát âm/ˈɪŋɡlɪʃ/[1]Khu vựcToàn cầu (xem §Phân bố địa lý, bên dưới)Tổng số người nói360 400triệu (2006)[2]
Người nói ngôn ngữ thứ hai: 400triệu;
như một ngoại ngữ: 600700 triệu[2]Phân loạiẤn-Âu

  • German
  • German Tây
  • German biển Bắc
  • Anglo-Frisia
  • Gốc Anh
  • Tiếng AnhNgôn ngữ tiền thânTiếng Anh cổ
  • Tiếng Anh trung đại
  • Tiếng Anh cận đại
  • Tiếng Anh Hệ chữ viết
  • Latinh (bảng chữ cái tiếng Anh)
  • Hệ chữ nổi tiếng Anh, Unified English BrailleDạng ngôn ngữ kí hiệuManually coded English
    (đa hệ thống)Địa vị chính thứcNgôn ngữ chính thứctại
  • 54 quốc gia
  • 27 chính thể không chủ quyền
    Nhiều tổ chức
  • Liên Hợp Quốc
  • Liên minh châu Âu
  • Thịnh vượng chung các quốc gia
  • Hội đồng châu Âu
  • ICC
  • IOC
  • ISO
  • NATO
  • WTO
  • NAFTA
  • OAS
  • OECD
  • OIC
  • OPEC
  • Tổ chức GUAM vì Dân chủ và Phát triển Kinh tế
  • PIF
  • Hiệp định UKUSA
  • ASEAN
  • Cộng đồng Kinh tế ASEAN
  • SAARC
  • Hội đồng các quốc gia Turk
  • ECOMã ngôn ngữISO 639-1enISO 639-2engISO 639-3engGlottologstan1293[3]Linguasphere52-ABA

Ngôn ngữ chính thứcNgôn ngữ chính thức duy nhất, sử dụng bởi số đôngNgôn ngữ chính thức duy nhất, sử dụng bởi số ítNgôn ngữ đồng chính thức, sử dụng bởi số đôngNgôn ngữ đồng chính thức, sử dụng bởi số ítPhi chính thứcNgôn ngữ phi chính thức, sử dụng bởi số đôngNgôn ngữ phi chính thức, sử dụng bởi số ítBài viết này có chứa ký tự ngữ âm IPA. Nếu không thích hợp hỗ trợ dựng hình, bạn có thể sẽ nhìn thấydấu chấm hỏi, hộp, hoặc ký hiệu khácthay vì kí tự Unicode. Để biết hướng dẫn giới thiệu về các ký hiệu IPA, xem Trợ giúp:IPA.

Tiếng Anh đã phát triển trong quãng thời gian hơn 1.400 năm. Dạng cổ nhất của tiếng Anh  một tập hợp các phương ngữ Anglo-Frisia được mang đến đảo Anh bởi người Anglo-Saxon vào thế kỷ V  được gọi là tiếng Anh cổ. Thời tiếng Anh trung đại bắt đầu vào cuối thế kỷ XI khi người Norman xâm lược Anh; đây là thời kỳ tiếng Anh chịu ảnh hưởng của tiếng Pháp/Norman.[7] Thời tiếng Anh cận đại bắt đầu vào cuối thế kỷ XV với sự xuất hiện của máy in ép ở Luân Đôn và Kinh Thánh Vua James, theo đó là sự khởi đầu của Great Vowel Shift.[8] Nhờ ảnh hưởng toàn cầu của Đế quốc Anh, tiếng Anh hiện đại lan rộng ra toàn thế giới trong thời gian từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX. Nhờ vào các loại hình truyền thông in ấn và điện tử, cũng như việc Hoa Kỳ nổi lên thành một siêu cường, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ dẫn đầu trong giao tiếp quốc tế, là lingua franca ở nhiều khu vực và ở nhiều phạm vi chuyên biệt như khoa học, hàng hải và luật pháp.[9]

Tiếng Anh là bản ngữ lớn thứ ba trên thế giới, sau tiếng Trung Quốc và tiếng Tây Ban Nha.[10] Đây là ngôn ngữ thứ hai được học nhiều nhất và là ngôn ngữ chính thức của gần 60 quốc gia có chủ quyền. Ngôn ngữ này có số người nói như ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ lớn hơn số người bản ngữ. Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến nhất ở Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Hoa Kỳ, Canada, Úc, Cộng hòa Ireland và New Zealand, và được nói rộng rãi ở một số khu vực tại Caribe, châu Phi và Nam Á.[11] Đây là ngôn ngữ đồng chính thức của Liên Hợp Quốc, của Liên minh châu Âu và của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác. Đây là ngôn ngữ German phổ biến nhất, chiếm ít nhất 70% số người nói của ngữ tộc này. Khối từ vựng tiếng Anh rất lớn, và việc xác định gần chính xác số từ cũng là điều không thể.[12][13]

Ngữ pháp tiếng Anh hiện đại là kết quả của sự thay đổi dần dần từ một ngôn ngữ với sự biến tố hình thái đa dạng và cấu trúc câu tự do, thành một ngôn ngữ mang tính phân tích với chỉ một ít biến tố, có cấu trúc SVO cố định và cú pháp phức tạp.[14] Tiếng Anh hiện đại dựa trên trợ động từ và thứ tự từ để diễn đạt hệ thống thì, thể và thức, cũng như sự bị động, nghi vấn và một số trường hợp phủ định. Dù có sự khác biệt đáng chú ý về giọng và phương ngữ theo vùng miền và quốc gia  ở các mặt ngữ âm và âm vị, cũng như từ vựng, ngữ pháp và chính tả  người nói tiếng Anh trên toàn thế giới có thể giao tiếp tương đối dễ dàng.

Mục lục

  • 1 Cơ bản về ngữ pháp
  • 2 Phân loại Tiếng Anh
  • 3 Lịch sử
  • 3.1 Tiếng Anh cổ
  • 3.2 Tiếng Anh trung đại
  • 3.3 Tiếng Anh cận đại
  • 3.4 Sự lan rộng của tiếng Anh hiện đại
  • 4 Phân bố địa lý
  • 4.1 Ba vòng tròn quốc gia nói tiếng Anh
  • 5 Ngữ âm và âm vị học
  • 5.1 Phụ âm là gì
  • 5.2 Nguyên âm là gì
  • 6 Ngữ pháp
  • 6.1 Danh từ là gì
  • 6.2 Động từ là gì
  • 7 Chú giải
  • 8 Liên kết ngoài

Cơ bản về ngữ phápSửa đổi

Tiếng anh là ngôn ngữ head-inital ở mức độ trung bình. Mặc dù từ vựng chứa phần lớn số lượng từ từ tiếng Latinh nhưng ngữ pháp vẫn mang đặc trưng của ngữ hệ giéc-manh với một số sự giản lược nhất định như:

  • Không phân biệt giống danh từ. Tất cả 3 giống danh từ đều được giản lược thành một mạo từ duy nhất là the.
  • Tính từ giữ nguyên mà không biến đổi theo vai trò của nó trong cấu trúc câu.

Trong ngôn ngữ cổ Latinh, tính từ chia theo 3 giống, 2 số lượng (nhiều, ít), và 4-6 cách (danh cách, tặng cách, sở hữu cách, đối cách) với trùng lặp nhất định ở từng trường hợp (Ví dụ: Biến đổi của số ít và số nhiều là giống nhau đối với giống cái trong tiếng đức ở danh cách đối cách nếu không có mạo từ xác định đi kèm.)

  • Mệnh đề quan hệ luôn đứng sau danh từ hoặc cụm danh từ mà nó bổ trợ và được dẫn dắt bởi một đại từ quan hệ, phổ biến nhất là that. Các đại từ quan hệ khác có thể được dùng như là who, which, whom, when, where nhưng không cần biến đổi nghiêm ngặt. Một ví dụ minh hoạ như sau:

I saw the police that had shot a black guy here.

Ở ví dụ trên, cụm từ that had shot a black guy là mệnh đề quan hệ xác định. Trái ngược với các ngôn ngữ head-final khác như tiếng Quan Thoại, tiếng Nhật, hay ngay như tiếng Đức trong cùng ngữ chi thường đặt mệnh đề quan hệ lên đằng trước tiếng Anh lại đặt nó đằng sau, một đặc điểm của ngữ hệ Rôman.  Mệnh đề quan hệ có thể được rút gọn thành một cụm V-ing và có thể đảo trật tự như các ngôn ngữ head-final khác nhưng nó chỉ xuất hiện trong các văn viết, văn nói hàng ngày vẫn tuân theo cấu trúc cơ bản trên, chẳng hạn:

I saw the police shooting a black guy here.

I saw the black-guy-shooting police here.

Mệnh đề quan hệ được rút gọn với tần suất cực lớn nếu như nó ở bị động, khiến nó xuất hiện như một cụm tính từ đứng đằng sau bổ sung cho danh từ mà vốn dĩ tính từ luôn đứng đằng trước và đôi khi gây nhầm lẫn với thì quá khứ. Điều này là nhân tố để xếp tiếng anh vào ngôn ngữ head-intial.

This is the phenomenon that was unknown until the 20th century.

This is the phenomenon unkown until the 20th century.

Cụm tính từ unkown until the 20th century rất giống với phong cách luôn luôn đặt tính từ ra đằng sau của ngữ hệ Rôman và ngữ hệ Nam Á, ví dụ: la(cái) casa ((ngôi) nhà) blanca(màu trắng) trong tiếng Tây Ban Nha,...

Phân loại Tiếng AnhSửa đổi  Các ngôn ngữ German tại châu Âu  Nhóm ngôn ngữ Anglo-Frisia  Tiếng Anh Tiếng Scots Tiếng Tây Frisia Tiếng Bắc Frisia Tiếng Frisia Saterland

Tiếng Anh là một ngôn ngữ ẤnÂu, chính xác hơn là thuộc ngữ chi German Tây của ngữ tộc German.[15] Gần gũi nhất với tiếng Anh là nhóm ngôn ngữ Frisia; tiếng Anh và các tiếng Frisia cùng nhau tạo nên phân nhóm Anglo-Frisia. Tiếng Saxon cổ và hậu duệ của nó là tiếng Hạ Saxon (Hạ Đức) cũng có quan hệ gần, và đôi khi, tiếng Hạ Saxon, tiếng Anh, và các tiếng Frisia được gộp lại với nhau thành nhóm German biển Bắc.[16] Tiếng Anh hiện đại là hậu thân của tiếng Anh trung đại và tiếng Anh cổ.[17] Một số phương ngữ của tiếng Anh cổ và trung đại đã phát triển thành một vài ngôn ngữ gốc Anh khác, gồm tiếng Scots[18] và các phương ngữ Fingal và Forth and Bargy (Yola) tại Ireland.[19]

Tiếng Anh chia sẻ một số đặc điểm với tiếng Hà Lan, tiếng Đức, và tiếng Thụy Điển.[20] Những đặc điểm này cho thấy chúng xuất phát từ cùng một ngôn ngữ tổ tiên. Một vài điểm chung của các ngôn ngữ German là việc sử dụng modal verb, sự phân động từ thành lớp mạnh và yếu, và những luật biến đổi phụ âm, gọi là luật Grimm và luật Verner.

Tiếng Anh, như hai ngôn ngữ German hải đảo khác là tiếng Iceland và tiếng Faroe, đã phát triển một cách độc lập với các ngôn ngữ German lục địa. Tiếng Anh do đó không thể thông hiểu với ngôn ngữ nào, do sự khác biệt về từ vựng, cú pháp, và ngữ âm học, dù một số, như tiếng Hà Lan, cho thấy nhiều sự tương đồng với tiếng Anh, nhất là ở những dạng cổ.[21]

Vì tiếng Anh đã thay đổi đáng kể do ảnh hưởng của các ngôn ngữ khác, nhất là tiếng Bắc Âu cổ và tiếng Pháp Norman, một số học giả cho rằng tiếng Anh có thể được xem là một ngôn ngữ hỗn hợp hoặc creole  một giả thuyết gọi là giả thuyết creole tiếng Anh trung đại. Dù ảnh hưởng to lớn của các ngôn ngữ khác lên từ vựng và ngữ pháp tiếng Anh là điều hiển nhiên, đa số các chuyên gia không xem tiếng Anh là ngôn ngữ hỗn hợp thực sự.[22][23]  Cây phát sinh cho thấy mối quan hệ giữa các ngôn ngữ German Tây.

Theo luật Grimm, những từ gốc German bắt đầu bằng /f/, thì các từ cùng gốc (cognate) phi German của chúng sẽ bắt đầu bằng /p/. Ngoài ra, tiếng Anh và các tiếng Frisia còn chia sẻ với nhau một vài điểm riêng, như sự vòm hóa các phụ âm ngạc mềm trong ngôn ngữ German nguyên thủy.[24]

  • Tiếng Anh sing, sang, sung; tiếng Hà Lan zingen, zong, gezongen; tiếng Đức singen, sang, gesungen (động từ bất quy tắc)Tiếng Anh laugh, laughed; tiếng Hà Lan và Đức lachen, lachte (động từ có quy tắc)
  • Tiếng Anh foot, tiếng Đức Fuß, tiếng Na Uy và Thụy Điển fot, tiếng Goth fōtus (âm đầu /f/ bắt nguồn từ *p trong ngôn ngữ Ấn-Âu nguyên thủy, theo luật Grimm)Tiếng Latinh pes, gốc từ ped-; tiếng Hy Lạp hiện đại πόδι pódi; tiếng Nga под pod; tiếng Phạn पद् pád (*p gốc, thừa hưởng từ ngôn ngữ Ấn-Âu nguyên thủy)
  • Tiếng Anh cheese, tiếng Tây Frisia tsiis (ch và ts nhờ vòm hóa)Tiếng Đức Käse và tiếng Hà Lan kaas (k không qua vòm hóa)

Lịch sửSửa đổiBài chi tiết: Lịch sử tiếng Anh

Tiếng Anh cổSửa đổiBài chi tiết: Tiếng Anh cổ  Phần mở đầu của sử thi tiếng Anh cổ Beowulf, được viết tay:Hƿæt ƿē Gārde/na ingēar dagum þēod cyninga / þrym ge frunon...

Dạng cổ nhất của tiếng Anh được gọi là tiếng Anh cổ hay tiếng Anglo-Saxon (5501066). Tiếng Anh cổ phát triển từ một tập hợp các phương ngữ German biển Bắc ban đầu được nói dọc theo vùng duyên hải Frisia, Niedersachsen, Jylland, và Nam Thụy Điển bởi các bộ tộc German gọi là Angle, Saxon, và Jute. Thế kỷ thứ V, người Anglo-Saxon đến Anh và người La Mã rút khỏi đảo Anh. Đến thế kỷ thứ VII, ngôn ngữ của người Anglo-Saxon đã chiếm ưu thế trên đảo Anh, thay thế các ngôn ngữ của Anh thuộc La Mã (43409): tiếng Britton chung, một ngôn ngữ Celt, và tiếng Latinh, được mang đến đảo Anh bởi người La Mã.[25][26][27] Hai từ England và English (ban đầu là Ænglaland và Ænglisc) xuất phát từ tên gọi "Angle".[28]

Tiếng Anh cổ có bốn phương ngữ: hai phương ngữ Angle, Mercia và Northumbria, và hai phương ngữ Saxon, Kent và Tây Saxon.[29] Nhờ cải cách giáo dục của Vua Alfred vào thế kỷ thứ IX và ảnh hưởng của vương quốc Wessex, phương ngữ Tây Saxon trở thành dạng ngôn ngữ viết tiêu chuẩn.[30] Sử thi Beowulf được viết bằng phương ngữ Tây Saxon, còn bài thơ tiếng Anh cổ nhất, Cædmon's Hymn, được viết bằng phương ngữ Northumbria.[31] Tiếng Anh hiện đại phát triển từ phương ngữ Mercia, còn tiếng Scots[32] phát triển từ phương ngữ Northumbria. Một vài bản khắc ngắn trong thời kỳ đầu tiên của tiếng Anh cổ được viết bằng chữ rune.[33] Đến thế kỷ thứ VI, bảng chữ cái Latinh được chấp nhận và sử dụng. Bảng chữ cái này vẫn còn dấu vết của chữ rune, ở các ký tự wynn ⟨ƿ⟩ và thorn ⟨þ⟩. Ngoài ra, eth ⟨ð⟩, và ash ⟨æ⟩ là hai ký tự Latinh được biến đổi.[33][34]

Tiếng Anh cổ rất khác với tiếng Anh hiện đại và người bản ngữ thế kỷ XXI cũng không thể hiểu được. Ngữ pháp của nó giống với của tiếng Đức hiện đại, và ngôn ngữ gần với nó nhất là tiếng Frisia cổ. Danh từ, tính từ, đại từ, và động từ đều có nhiều đuôi và dạng biến tố, và thứ tự từ thì tự do hơn nhiều so với tiếng Anh hiện đại. Tiếng Anh hiện đại lưu giữ dạng cách ngữ pháp của đại từ (he, him, his) và một vài đuôi động từ (I have, he has), nhưng tiếng Anh cổ thì còn biến tố danh từ dựa trên cách, và động từ biến tố nhiều hơn dựa trên ngôi và số.[35][36][37]

Đoạn dịch Phúc Âm Mátthêu 8:20 (năm 1000) có thấy các đuôi cách (danh cách NOM số nhiều PL, đối cách ACC số nhiều, sở hữu cách GEN số ít SG) và đuôi động từ (thì hiện tại PRS số nhiều): Foxas habbað holu and heofonan fuglas nest Fox-as habb-að hol-u and heofon-an fugl-as nest- "Cáo có hang và chim thiên đường có tổ"[38]

Tiếng Anh trung đạiSửa đổiBài chi tiết: Tiếng Anh trung đại

Trong thời kỳ thế kỷ VIII-XII, tiếng Anh cổ qua sự tiếp xúc ngôn ngữ đã chuyển thành tiếng Anh trung đại. Thời tiếng Anh trung đại thường được xem là bắt đầu từ cuộc xâm lược nước Anh của William Kẻ chinh phục năm 1066.

Ban đầu, những làn sóng thực dân hóa của người Norse ở miền bắc quần đảo Anh vào thế kỷ VIII-IX đưa tiếng Anh cổ đến sự tiếp xúc với tiếng Bắc Âu cổ, một ngôn ngữ German Bắc. Ảnh hưởng của tiếng Bắc Âu cổ mạnh nhất là ở những phương ngữ đông bắc quanh York (khu vực mà Danelaw được áp dụng), nơi từng là trung tâm của sự thuộc địa hóa; ngày nay những ảnh hưởng này vẫn hiển hiện trong tiếng Scots và tiếng Anh bắc Anh.

Với cuộc xâm lược của người Norman năm 1066, thứ tiếng Anh cổ được "Bắc Âu hóa" giờ lại tiếp xúc với tiếng Norman cổ, một ngôn ngữ Rôman rất gần với tiếng Pháp. Tiếng Norman tại Anh cuối cùng phát triển thành tiếng Anglo-Norman. Vì tiếng Norman được nói chủ yếu bởi quý tộc và tầng lớp cao của xã hội, trong khi thường dân tiếp tục nói tiếng Anglo-Saxon, ảnh hưởng tiếng Norman mang đến một lượng lớn từ ngữ liên quan đến chính trị, luật pháp và sự thống trị.[39] Tiếng Anh trung đại lượt bỏ bớt hệ thống biến tố. Sự khác biệt giữa danh cách và đối cách mất đi (trừ ở đại từ), công cụ cách bị loại bỏ, và chức năng của sở hữu cách bị giới hạn. Hệ thống biến tố "quy tắc hóa" nhiều dạng biến tố bất quy tắc,[40] và dần dần đơn giản hóa hệ thống hợp, khiến cấu trúc câu kém mềm dẻo đi.[41] Trong Kinh Thánh Wycliffe thập niên 1380, đoạn Phúc Âm Mátthêu 8:20 được viết Foxis han dennes, and briddis of heuene han nestis[42]

Ở đây, hậu tố thì hiện tại số nhiều -n ở động từ han (nguyên mẫu "haven", gốc từ ha-) hiện diện, nhưng không có cách ngữ pháp nào được thể hiện.

Đến thế kỷ XII, tiếng Anh trung đại phát triển hoàn toàn, dung hợp vào mình cả ảnh hưởng của tiếng Bắc Âu cổ và tiếng Norman; và tiếp tục được nói cho tới khoảng năm 1500 thì trở thành tiếng Anh hiện đại. Nền văn học tiếng Anh trung đại có những tác phẩm như The Canterbury Tales của Geoffrey Chaucer, và Le Morte d'Arthur của Malory.

Tiếng Anh cận đạiSửa đổiBài chi tiết: Tiếng Anh cận đại  Hình minh họa cuộc Great Vowel Shift, cho thấy cách phát âm nguyên âm dài dần thay đổi như thế nào, với các nguyên âm đóng dài i: và u: biến thành nguyên âm đôi

Thời kỳ tiếp theo là tiếng Anh cận đại (Early Modern English, 15001700). Thời kỳ tiếng Anh cận đại nổi bật với cuộc Great Vowel Shift (13501700), tiếp tục đơn giản hóa biến tố, và sự chuẩn hóa ngôn ngữ.

Great Vowel Shift ảnh hưởng lên những nguyên âm dài được nhấn. Đây là một sự "biến đổi dây chuyền", tức là một âm được biến đổi làm tác động lên các âm khác nữa. Những nguyên âm vừa và nguyên âm mở được nâng lên, và nguyên âm đóng biến thành nguyên âm đôi. Ví dụ, từ bite ban đầu được phát âm giống từ beet ngày nay, nguyên âm thứ hai trong từ about được phát âm giống trong từ boot ngày này. Great Vowel Shift gây nên nhiều sự bất tương đồng trong cách viết, vì tiếng Anh hiện đại duy trì phần nhiều cách viết của tiếng Anh trung đại, và cũng giải thích tại sao, các ký tự nguyên âm trong tiếng Anh lại được phát âm rất khác khi so với những ngôn ngữ khác.[43][44]

Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ uy tính dưới thời Henry V. Khoảng năm 1430, Tòa án Chancery tại Westminster bắt đầu sử dụng tiếng Anh để viết các tài liệu chính thức, và một dạng chuẩn mới, gọi là Chancery Standard, được hình thành dựa trên phương ngữ thành Luân Đôn và East Midlands. Năm 1476, William Caxton giới thiệu máy in ép tới nước Anh và bắt đầu xuất bản những quyển sách đầu tiên, làm lan rộng sự ảnh hưởng của dạng chuẩn mới.[45] Những tác phẩm của William Shakespeare và bản dịch Kinh Thánh được ủy quyền bởi Vua James I đại diện cho nền văn học thời kỳ này. Sau cuộc Vowel Shift, tiếng Anh cận đại vẫn có nét khác biệt với tiếng Anh ngày nay: ví dụ, các cụm phụ âm /kn ɡn sw/ trong knight, gnat, và sword vẫn được phát âm đầy đủ. Những đặc điểm mà độc giả của Shakespeare ngày nay có thể thấy kỳ quặc hay lỗi thời thường đại diện cho những nét đặc trưng của tiếng Anh cận đại.[46]

Trong Kinh Thánh Vua James 1611, viết bằng tiếng Anh cận đại, Mátthêu 8:20: The Foxes haue holes and the birds of the ayre haue nests[38]

Sự lan rộng của tiếng Anh hiện đạiSửa đổi

Tới cuối thế kỷ XVIII, Đế quốc Anh đã lan rộng tiếng Anh lên hầu khắp các thuộc địa và vùng thống trị. Thương mại, khoa học và kỹ thuật, ngoại giao, nghệ thuật, giáo dục đều góp phần đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ toàn cầu đích thực đầu tiên. Tiếng Anh cũng trở thành ngôn ngữ giao tiếp quốc tế.[47][48] Do nước Anh lập nên nhiều thuộc địa, những thuộc địa này lại giành độc lập và phát triển cách nói và viết tiếng Anh riêng. Tiếng Anh hiện diện ở Bắc Mỹ, Ấn Độ, một phần châu Phi, Australasia, và nhiều vùng khác. Thời hậu thuộc địa, những quốc gia mới với nhiều ngôn ngữ bản địa thường chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức để tránh việc một ngôn ngữ bản địa đứng trên những ngôn ngữ khác.[49][50][51] Thế kỷ XX, sự phát triển và tầm ảnh hưởng văn hóa, chính trị của Hoa Kỳ như một siêu cường sau Thế Chiến thứ II đã tăng tốc việc lan rộng ngôn ngữ này ra toàn cầu.[52][53] Đến thế kỷ XXI, tiếng Anh được nói và viết nhiều hơn bất kỳ ngôn ngữ nào trong lịch sử.[54]

Phân bố địa lýSửa đổiXem thêm: Danh sách lãnh thổ nơi tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức và Danh sách quốc gia theo số người nói tiếng Anh  Phần trăm số người bản ngữ tiếng Anh.  Phần trăm số người nói tiếng Anh theo quốc gia.      80100%  6080%    4060%  2040%    020%  Không rõ

Tính đến năm 2016, 400 triệu người có ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Anh, và 1,1 tỉ người dùng nó làm ngôn ngữ thứ hai hoặc ngoại ngữ.[55] Tiếng Anh là ngôn ngữ đứng thứ ba về số người bản ngữ, sau tiếng Quan Thoại và tiếng Tây Ban Nha.[10] Tuy nhiên, khi kết hợp số người bản ngữ và phi bản ngữ, nó có thể, tùy theo ước tính, là ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới.[54][56][57][58] Tiếng Anh được nói bởi các cộng đồng ở mọi nơi và ở hầu khắp các hòn đảo trên các đại dương.[59]

Ba vòng tròn quốc gia nói tiếng AnhSửa đổi

Braj Kachru phân biệt các quốc gia nơi tiếng Anh được nói bằng mô hình ba vòng tròn.[60] Trong mô hình này, "vòng trong" là quốc gia với các cộng đồng bản ngữ tiếng Anh lớn, "vòng ngoài" là các quốc gia nơi tiếng Anh chỉ là bản ngữ của số ít nhưng được sử dụng rộng rãi trong giáo dục, truyền thông và các mục đích khác, và "vòng mở rộng" là các quốc gia nơi nhiều người học tiếng Anh. Ba vòng tròn này thay đổi theo thời gian.[61]  Ba vòng tròn tiếng Anh của Braj Kachru.

Những quốc gia với các cộng đồng bản ngữ lớn gồm Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Hoa Kỳ, Úc, Canada, Cộng hòa Ireland, và New Zealand, những nơi đa phần dân số nói tiếng Anh, và Cộng hòa Nam Phi, nơi một thiểu số đáng kể nói tiếng Anh. Các quốc gia đông người bản ngữ tiếng Anh nhất là Hoa Kỳ (ít nhất 231 triệu),[62] Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (60 triệu),[63][64][65] Canada (19 triệu),[66] Úc (ít nhất 17 triệu),[67] Cộng hòa Nam Phi (4,8 triệu),[68] Cộng hòa Ireland (4,2 triệu), và New Zealand (3,7 triệu).[69] Ở những quốc gia này, con của những người bản ngữ học tiếng Anh từ cha mẹ, còn người bản địa nói ngôn ngữ khác hay người nhập cư thường học tiếng Anh để giao tiếp với mọi người xung quanh.[70]

Ngữ âm và âm vị họcSửa đổiBài chi tiết: Âm vị học tiếng Anh

Ngữ âm và hệ thống âm vị tiếng Anh thay đổi theo từng phương ngữ, tuy thường không cản trở việc giao tiếp. Phần này chủ yếu mô tả cách phát âm chuẩn tại Vương quốc Liên hiệp và Hoa Kỳ: Received Pronunciation (RP) và General American (GA). Những ký tự ngữ âm bên dưới là của bảng mẫu tự ngữ âm quốc tế (IPA).[71][72][73]

Phụ âm là gìSửa đổi

Đa số các phương ngữ tiếng Anh có cùng 24phụ âm. Hệ thống phụ âm bên dưới đúng với tiếng Anh Mỹ California,[74] và RP.[75]Âm vị phụ âm Môi Răng Chân răng Sau
chân răng Vòm Ngạc mềm Thanh hầu Mũi m n ŋ Tắc pb td kɡ Tắc xát tʃdʒ Xát fv θð sz ʃʒ h Tiếp cận l ɹ* j w

* Thường được ghi là /r/.

Trong bảng trên, khi âm cản (tắc, tắc xát, và xát) đi theo cặp, như /p b/, /tʃ dʒ/, và /s z/, thì âm đầu là fortis (mạnh) và thứ hai là lenis (yếu). Những phụ âm cản fortis (như /p tʃ s/) được phát âm căng về cơ và hơi hơn phụ âm lenis (như /b dʒ z/), và luôn luôn vô thanh. Phụ âm lenis hữu thanh một phần khi ở đầu và cuối từ, và hữu thanh hoàn toàn khi nằm giữa hai nguyên âm. Những âm tắc fortis như /p/ có thêm vài đặc điểm ngữ âm khác ở đa phần phương ngữ: nó trở thành phụ âm bật hơi [pʰ] khi đứng một mình ở đầu một âm tiết được nhấn, không bật hơi ở đa số các trường hợp khác, và thường biến thành âm không thả hơi [p̚ ] hay âm thanh hầu hóa trước [ˀp] ở cuối âm tiết. Ở từ đơn âm tiết, nguyên âm đứng trước phụ âm tắc fortis được rút ngắn: nên nip [nɪˑp̬] có một nguyên âm ngắn (về mặt ngữ âm, không phải về mặt âm vị) hơn nib.[76]

  • phụ âm tắc lenis: bin [b̥ɪˑn], about [əˈbaʊt], nib [nɪˑb̥]
  • phụ âm tắc fortis: pin [ˈpʰɪn], spin [spɪn], happy [ˈhæpi], nip [ˈnɪp̚ ] hay [ˈnɪˀp]

Trong RP, âm tiếp cận cạnh lưỡi chân răng /l/, có hai tha âm: [l] thông thường và "sáng", như trong light ('nhẹ, ánh sáng'), và [ɫ] "tối" và được ngạc mềm hóa, như trong full ('no, đầy').[77] GA dùng ɫ trong hầu hết trường hợp.[78]

  • l thường: RP light [laɪt]
  • l "tối": RP và GA full [fʊɫ], GA light [ɫaɪt]

Tất cả phụ âm tiếp cận (/l, r/) và phụ âm mũi (/m, n, ŋ/) được vô thanh hóa khi đứng sau một âm cản vô thanh, và được âm tiết hóa khi nằm cuối từ, sau một phụ âm khác.[79]

  • vô thanh hóa: clay [ˈkl̥ɛɪ̯] và snow [ˈsn̥oʊ]
  • âm tiết hóa: paddle [pad.l̩], và button [bʌt.n̩]

Nguyên âm là gìSửa đổi

Sự phát âm nguyên âm biến thiên theo phương ngữ và là một trong các khía cạnh dễ nhận thấy nhất trong giọng của người nói. Bảng dưới là các âm vị nguyên âm trong Received Pronunciation (RP) và General American (GA), và những từ mà chúng xuất hiện. Âm vị được thể hiện bằng IPA; những từ trong RP là chuẩn trong các từ điển nước Anh.  nguyên âm đơn RP GA từ iːineed ɪbid eɛbed æback nguyên âm đơn RP GA từ (ɪ) ɨroses əcommaɜːɜrbird ʌbut nguyên âm đơn RP GA word uːufood ʊgood ɔːɔpawɒcloth ɑbox ɑːbra nguyên âm đôi RP GA word eɪbayəʊoʊroad aɪcryaʊcowɔɪboy

Trong RP, độ dài nguyên âm được phân biệt; nguyên âm dài được đánh dấu ⟨ː⟩, ví dụ, nguyên âm trong need [niːd] khác với trong bid [bɪd]. GA không có nguyên âm dài.

Ngữ phápSửa đổiBài chi tiết: Ngữ pháp tiếng Anh

Khác với nhiều ngôn ngữ Ấn-Âu khác, tiếng Anh đã gần như loại bỏ hệ thống biến tố dựa trên cách để thay bằng cấu trúc phân tích. Đại từ nhân xưng duy trì hệ thống cách hoàn chỉnh hơn những lớp từ khác. Tiếng Anh có bảy lớp từ chính: động từ, danh từ, tính từ, trạng từ, hạn định từ (tức mạo từ), giới từ, và liên từ. Có thể tách đại từ khỏi danh từ, và thêm vào thán từ.[80] Tiếng Anh có một tập hợp trợ động từ phong phú, như have (nghĩa đen 'có') và do ('làm'). Câu nghi vấn có do-support, và wh-movement (từ hỏi wh- đứng đầu).

Một vài đặc điểm tiêu biểu của ngữ tộc German vẫn còn ở tiếng Anh, như những thân từ được biến tố "mạnh" thông qua ablaut (tức đổi nguyên âm của thân từ, tiêu biểu trong speak/spoke và foot/feet) và thân từ "yếu" biến tố nhờ hậu tố (như love/loved, hand/hands). Vết tích của hệ thống cách và giống hiện diện trong đại từ (he/him, who/whom) và sự biến tố động từ to be.

Trong ví dụ sau, cả bảy lớp từ có mặt:[81]The chairman of the committee and the loquacious politician clashed violently when the meeting started HĐT. DT. GT. HĐT. DT. LT. HĐT. TiT. DT. ĐT. TrT. LT. HĐT. DT. ĐT. (Chủ tịch ủy ban và vị chính khách lắm lời va vào nhau dữ dội khi cuộc họp bắt đầu)

Danh từ là gìSửa đổi

Danh từ dùng biến tố để chỉ số và sự sở hữu. Danh từ mới có thể được tạo ra bằng cách ghép từ (gọi là compound noun). Danh từ được chia ra thành danh từ riêng và danh từ chung. Danh từ cũng được chia thành danh từ cụ thể (như "table" - cái bàn) và danh từ trừu tượng (như "sadness" - nỗi buồn), và về mặt ngữ pháp gồm danh từ đếm được và không đếm được.[82]

Đa số danh từ đếm được có thể biến tố để thể hiện số nhiều nhờ hậu tố -s/es, nhưng một số có dạng số nhiều bất quy tắc. Danh từ không đếm được chỉ có thể "số nhiều hóa" nhờ một danh từ có chức năng như phân loại từ (ví dụ one loaf of bread, two loaves of bread).[83]

Ví dụ:

Cách lập số nhiều thông thường: Số ít: cat, dog Số nhiều: cats, dogs

Cách lập số nhiều bất quy tắc: Số ít: man, woman, foot, fish, ox, knife, mouse Số nhiều: men, women, feet, fish, oxen, knives, mice

Sự sở hữu được thể hiện bằng  (')s  (thường gọi là hậu tố sở hữu), hay giới từ of. Về lịch sử (')s được dùng cho danh từ chỉ vật sống, còn of dùng cho danh từ chỉ vật không sống. Ngày nay sự khác biệt này ít rõ ràng hơn. Về mặt chính tả, hậu tố -s được tách khỏi gốc danh từ bởi dấu apostrophe.

Cấu trúc sở hữu: Với -s: The woman's husband's child Với of: The child of the husband of the woman (Con của chồng của người phụ nữ)

Động từ là gìSửa đổi

Động từ tiếng Anh được chia theo thì và thể, và hợp (agreement) với đại từ ngôi số ba số ít. Chỉ động từ to be vẫn phải hợp với đại từ ngôi thứ nhất và thứ hai số nhiều.[84] Trợ động từ như have và be đi kèm với động từ ở dạng hoàn thành và tiếp diễn. Trợ động từ khác với động từ thường ở chỗ từ not (chỉ sự phủ định) có thể đi ngay sau chúng (ví dụ, have not và do not), và chúng có thể đứng đầu trong câu nghi vấn.[85][86]

Chú giảiSửa đổi

  1. ^ OxfordLearner'sDictionary 2015, Entry: English  Pronunciation.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFOxfordLearner'sDictionary2015 (trợ giúp)
  2. ^ a b Crystal 2006, tr.424426.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCrystal2006 (trợ giúp)
  3. ^ Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert; Haspelmath, Martin biên tập (2013). Tiếng Anh chuẩn. Glottolog. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology. Đã bỏ qua tham số không rõ |chapterurl= (trợ giúp)
  4. ^ Crystal 2003a, tr.6.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCrystal2003a (trợ giúp)
  5. ^ Wardhaugh 2010, tr.55.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFWardhaugh2010 (trợ giúp)
  6. ^ Finkenstaedt, Thomas; Dieter Wolff (1973). Ordered profusion; studies in dictionaries and the English lexicon. C. Winter. ISBN3-533-02253-6.
  7. ^ Crystal 2003b, tr.30.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCrystal2003b (trợ giúp)
  8. ^ How English evolved into a global language. BBC. ngày 20 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2015.
  9. ^ The Routes of English 2015.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFThe_Routes_of_English2015 (trợ giúp)
  10. ^ a b Ethnologue 2010.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFEthnologue2010 (trợ giúp)
  11. ^ Crystal 2003b, tr.108109.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCrystal2003b (trợ giúp)
  12. ^ HowManyWords 2015.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFHowManyWords2015 (trợ giúp)
  13. ^ Algeo 1999.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFAlgeo1999 (trợ giúp)
  14. ^ König 1994, tr.539.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKönig1994 (trợ giúp)
  15. ^ Bammesberger 1992, tr.2930.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBammesberger1992 (trợ giúp)
  16. ^ Bammesberger 1992, tr.30.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBammesberger1992 (trợ giúp)
  17. ^ Robinson 1992.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFRobinson1992 (trợ giúp)
  18. ^ Romaine 1982, tr.5665.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFRomaine1982 (trợ giúp)
  19. ^ Barry 1982, tr.8687.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBarry1982 (trợ giúp)
  20. ^ Durrell 2006.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFDurrell2006 (trợ giúp)
  21. ^ Harbert 2007.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFHarbert2007 (trợ giúp)
  22. ^ Thomason & Kaufman 1988, tr.264265.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFThomasonKaufman1988 (trợ giúp)
  23. ^ Watts 2011, Chapter 4.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFWatts2011 (trợ giúp)
  24. ^ König & van der Auwera 1994.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKönigvan_der_Auwera1994 (trợ giúp)
  25. ^ Collingwood & Myres 1936.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCollingwoodMyres1936 (trợ giúp)
  26. ^ Graddol, Leith & Swann et al. 2007.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFGraddolLeithSwann_et_al.2007 (trợ giúp)
  27. ^ Blench & Spriggs 1999.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBlenchSpriggs1999 (trợ giúp)
  28. ^ Bosworth & Toller 1921.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBosworthToller1921 (trợ giúp)
  29. ^ Campbell 1959, tr.4.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCampbell1959 (trợ giúp)
  30. ^ Toon 1992, Chapter: Old English Dialects.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFToon1992 (trợ giúp)
  31. ^ Donoghue 2008.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFDonoghue2008 (trợ giúp)
  32. ^ Việc thứ tiếng này là phương ngữ hay ngôn ngữ còn chưa thống nhất.
  33. ^ a b Gneuss 2013, tr.23.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFGneuss2013 (trợ giúp)
  34. ^ Denison & Hogg 2006, tr.3031.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFDenisonHogg2006 (trợ giúp)
  35. ^ Hogg 1992, Chapter 3. Phonology and Morphology.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFHogg1992 (trợ giúp)
  36. ^ Smith 2009.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFSmith2009 (trợ giúp)
  37. ^ Trask & Trask 2010.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFTraskTrask2010 (trợ giúp)
  38. ^ a b Lass 2006, tr.4647.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFLass2006 (trợ giúp)
  39. ^ Svartvik & Leech 2006, tr.39.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFSvartvikLeech2006 (trợ giúp)
  40. ^ Lass 1992.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFLass1992 (trợ giúp)
  41. ^ Fischer & van der Wurff 2006, tr.11113.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFFischervan_der_Wurff2006 (trợ giúp)
  42. ^ Wycliffe, John. Bible (PDF). Wesley NNU.
  43. ^ Lass 2000.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFLass2000 (trợ giúp)
  44. ^ Görlach 1991, tr.6670.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFGörlach2991 (trợ giúp)
  45. ^ Nevalainen & Tieken-Boon van Ostade 2006, tr.27479.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFNevalainenTieken-Boon_van_Ostade2006 (trợ giúp)
  46. ^ Cercignani 1981.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCercignani1981 (trợ giúp)
  47. ^ How English evolved into a global language 2010.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFHow_English_evolved_into_a_global_language2010 (trợ giúp)
  48. ^ The Routes of English.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFThe_Routes_of_English (trợ giúp)
  49. ^ Romaine 2006, tr.586.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFRomaine2006 (trợ giúp)
  50. ^ Mufwene 2006, tr.614.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMufwene2006 (trợ giúp)
  51. ^ Northrup 2013, tr.8186.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFNorthrup2013 (trợ giúp)
  52. ^ Graddol 2006.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFGraddol2006 (trợ giúp)
  53. ^ Crystal 2003a.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCrystal2003a (trợ giúp)
  54. ^ a b McCrum, MacNeil & Cran 2003, tr.910.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMcCrumMacNeilCran2003 (trợ giúp)
  55. ^ Which countries are best at English as a second language?. World Economic Forum. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2016.
  56. ^ Crystal 2003a, tr.69.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCrystal2003a (trợ giúp)
  57. ^ English. Ethnologue. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016.
  58. ^ Chinese, Mandarin. Ethnologue. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016. Đã định rõ hơn một tham số trong |archiveurl= và |archive-url= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |archivedate= và |archive-date= (trợ giúp)
  59. ^ Crystal 2003b, tr.106.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCrystal2003b (trợ giúp)
  60. ^ Svartvik & Leech 2006, tr.2.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFSvartvikLeech2006 (trợ giúp)
  61. ^ Kachru 2006, tr.196.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKachru2006 (trợ giúp)
  62. ^ Ryan 2013, Table 1.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFRyan2013 (trợ giúp)
  63. ^ Office for National Statistics 2013, Key Points.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFOffice_for_National_Statistics2013 (trợ giúp)
  64. ^ National Records of Scotland 2013.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFNational_Records_of_Scotland2013 (trợ giúp)
  65. ^ Northern Ireland Statistics and Research Agency 2012, Table KS207NI: Main Language.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFNorthern_Ireland_Statistics_and_Research_Agency2012 (trợ giúp)
  66. ^ Statistics Canada 2014.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFStatistics_Canada2014 (trợ giúp)
  67. ^ Australian Bureau of Statistics 2013.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFAustralian_Bureau_of_Statistics2013 (trợ giúp)
  68. ^ Statistics South Africa 2012, Table 2.5 Population by first language spoken and province (number).Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFStatistics_South_Africa2012 (trợ giúp)
  69. ^ Statistics New Zealand 2014.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFStatistics_New_Zealand2014 (trợ giúp)
  70. ^ Bao 2006, tr.377.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBao2006 (trợ giúp)
  71. ^ Carr & Honeybone 2007.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCarrHoneybone2007 (trợ giúp)
  72. ^ Bermúdez-Otero & McMahon 2006.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBermúdez-OteroMcMahon2006 (trợ giúp)
  73. ^ MacMahon 2006.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFMacMahon2006 (trợ giúp)
  74. ^ International Phonetic Association 1999, tr.4142.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFInternational_Phonetic_Association1999 (trợ giúp)
  75. ^ König 1994, tr.534.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKönig1994 (trợ giúp)
  76. ^ Collins & Mees 2003, tr.4753.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCollinsMees2003 (trợ giúp)
  77. ^ Trudgill & Hannah 2008, tr.13.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFTrudgillHannah2008 (trợ giúp)
  78. ^ Trudgill & Hannah 2008, tr.41.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFTrudgillHannah2008 (trợ giúp)
  79. ^ Brinton & Brinton 2010, tr.5659.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBrintonBrinton2010 (trợ giúp)
  80. ^ Huddleston & Pullum 2002, tr.22.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFHuddlestonPullum2002 (trợ giúp)
  81. ^ Aarts & Haegeman 2006, tr.118.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFAartsHaegeman2006 (trợ giúp)
  82. ^ Payne & Huddleston 2002.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFPayneHuddleston2002 (trợ giúp)
  83. ^ Huddleston & Pullum 2002, tr.5657.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFHuddlestonPullum2002 (trợ giúp)
  84. ^ König 1994, tr.540.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKönig1994 (trợ giúp)
  85. ^ Huddleston & Pullum 2002, tr.51.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFHuddlestonPullum2002 (trợ giúp)
  86. ^ König 1994, tr.541.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFKönig1994 (trợ giúp)

Liên kết ngoàiSửa đổi Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện truyền tải về Tiếng Anh. Có sẵn phiên bản Tiếng Anh của Wikipedia, bách khoa toàn thư mở

Video liên quan